LỊCH SỬ DÒNG HỌ VIỆT NAM

Đăng bởi: AdministratorIn

LỊCH SỬ DÒNG HỌ VIỆT NAM.

Khi lịch sử của một dòng họ được gắn liền với lịch sử của một dân tộc là lịch sử mang tính sử thi - bản anh hùng ca của một dân tộc và của một dòng họ! Tiến sĩ kinh tế, Tác phẩm được xuất bản với sự tài trợ chính của TS. Đỗ Thị Hoài Chủ tịch HĐQT Tập đoàn CHC. Kiêm Phó Viện trưởng Viện Khoa học nghiên cứu Nhân tài nhân lực. viennhantaichc.com

LỜI NÓI ĐẦU Đã từ lâu, tôi có ý định viết cuốn sách Lịch sử Việt Nam gắn liền với Lịch sử dòng họ Việt Nam. Ý định này đã thúc giục tôi đi sưu tầm tài liệu về lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Đỗ Việt Nam. Tôi đã đi khắp các thư viện, kho lưu trữ ở trong nước và cũng ra nước ngoài, trong đó có Trung Quốc, để sưu tầm tài liệu về lịch sử Việt Nam và lịch sử họ Đỗ Việt Nam. Qua nhiều năm miệt mài biên soạn, đến nay, bản thảo đã hoàn thành. Tôi xem đó là một đóng góp cho kho tàng lịch sử Việt Nam và lịch sử họ Đỗ Việt Nam. Mục đích của việc biên soạn cuốn sách lịch sử về một dòng họ - họ Đỗ Việt Nam là để ôn lại truyền thống dòng họ Đỗ Việt Nam, qua đó mà giáo dục cho con cháu noi gương các vị tiên liệt mà ra sức phấn đấu, rèn luyện phẩm chất, chăm chỉ lao động, siêng năng học tập, trở thành những nhân tài, người thành công, thành danh của đại gia đình họ Đỗ và cũng là công dân Việt Nam có những đóng góp tích cực cho xã hội. Họ Đỗ Việt Nam tuy về số lượng người không đông bằng họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần, họ Phạm, họ Ngô, họ Vũ, họ Đặng, họ Đinh và các họ khác, nhưng cũng không ít, có khoảng trên dưới 10 triệu người đã và đang sống trên đất nước Việt Nam. Nguồn gốc của dòng họ Đỗ Việt Nam, qua nghiên cứu, tôi thấy có một bộ phận ở trên đất nước Việt Nam đã từ lâu đời, nhưng cũng có một bộ phận di chuyển từ phương Bắc đến, dần dần trở thành người Việt và cũng có một bộ phận người họ Đỗ Việt Nam di chuyển sang phương Bắc. Dòng tộc họ Đỗ Việt Nam phiêu bạt khắp nơi, lên rừng xuống biển. Đến nay, qua khảo cứu của chúng tôi, thì 63 tỉnh, thành trong cả nước đều có các chi, nhánh họ Đỗ, như Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng, thành phố Cần Thơ, các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên, Phúc Yên), Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hòa Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cà Mau. 6 Tiến sĩ ..................... Trong cuốn sách này, tôi cố gắng trình bày một cách có hệ thống với những tài liệu xác thực, rõ ràng về lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời Hồng Bàng Thị đến tận năm 2018, năm hoàn thành bản thảo của cuốn sách. Về dòng họ Đỗ Việt Nam và những nhân vật tiêu biểu của họ Đỗ Việt Nam, tôi trình bày từ thời Trưng Nữ Vương mà vị thủy tổ của họ Đỗ là nữ tướng Đàm Ngọc Nga cách đây hai nghìn năm và qua các giai đoạn: Bà Triệu khởi nghĩa; Triều Tiền Lý (Lý Nam Đế); Triều Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục); triều Hậu Lý Nam Đế (Lý Phật Tử); triều Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan); thời Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng); thời họ Khúc (Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ); thời Dương Đình Nghệ; Triều Ngô (Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Ngô Xương Văn, Ngô Xương Ngập); Triều Đinh (Đinh Tiên Hoàng, Đinh Toàn); Triều Tiền Lê (Lê Đại Hành tức Lê Hoàn, Lê Trung Tông, Lê Long Đĩnh tức Lê Ngọa Triều); Triều Lý (Lý Thái Tổ tức Lý Công Uẩn, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông, Lý Chiêu Hoàng); Triều Trần (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế); Nhà Hậu Trần (Giản Định đế tức Đế Ngỗi, Quý Kháng tức Trùng Quang đế); Triều Lê Sơ - Hậu Lê (Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng); triều Mạc (Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp); Triều Lê Trung Hưng (Lê Trang Tông, Lê Trung Tông, Lê Thế Tông, Lê Kính Tông, Lê Thần Tông, Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông, Lê Duy Đế Phường tức Hôn Đức Công, Lê Thuần Tông, Lê Ý Tông, Lê Hiển Tông, Lê Mẫn Đế); triều Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Toản); Triều Nguyễn (Nguyễn Thế Tổ tức Nguyễn Phúc Ánh, Gia Long; Nguyễn Thành Tổ tức Phúc Đảm; Nguyễn Hiến Tổ tức Miên Tông; Nguyễn Dực Tông tức Hồng Nhậm; Dục Đức tức Ưng Chân; Hiệp Hòa tức Hồng Dật; Nguyễn Giản Tông tức Ưng Đăng; Hàm Nghi tức Ưng Lịch; Nguyễn Cảnh Tông tức Ưng Xụy; Thành Thái tức Bửu Lân; Duy Tân tức Vĩnh San; Nguyễn Hoằng Tông tức Bửu Đảo; Bảo Đại tức Vĩnh Thụy); chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Cuốn sách này cũng đã xuyên suốt khoảng 2.000 năm của dòng họ Đàm trên đất Việt Nam. Thời nào cũng có những nhân vật tiêu biểu xuất hiện: Đời Trưng Nữ Vương có nữ tướng Đàm Ngọc Nga. Triều Lý có Quốc sư Đàm Thiên, một nhà sư thuộc làu kinh sử. Triều Đinh có Hoàng Thái hậu Đàm Thị (Đàm Thị Thiềm, Đàm Thị Thiềm Nương), mẹ đẻ ra Đinh Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Việt Nam 7 Tiên Hoàng. Triều Lý có Đàm Thì Phụng, thân phụ của Đàm Thị An Toàn. Đàm Thị An Toàn lấy Vua Lý Cao Tông, được phong làm An Toàn Hoàng hậu. Bà sinh ra Vua Lý Huệ Tông, được tôn làm Đàm Hoàng Thái hậu. Triều Lý còn có quan Thái úy Đàm Dĩ Mông mà cho đến nay, sử sách vẫn còn có những ý kiến đánh giá khác nhau. Các quan Triều Lý còn có Đàm Kinh Bang, Đàm Toái Trạng. Các học giả Triều Lý có Đàm Cửu Chỉ, Đàm Khí. Triều Lê Sơ đến Lê Trung Hưng, rồi gối sang giai đoạn Vua Lê - Chúa Trịnh, có quan Thượng thư Đàm Thận Huy, Thượng thư Đàm Thận Giản, Thượng thư Đàm Đình Cư, Thượng thư Đàm Công Hiệu, các học giả Đàm Văn Lễ, Đàm Tung, Đàm Thận Liêm, Đàm Cử... Có thể nói, họ Đàm Việt Nam phát triển rực rỡ nhất dưới Triều Lê Sơ - Hậu Lê, mà cái nôi là ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh. Dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Thượng tướng, Phó Chủ tịch nước Đàm Quang Trung và nhiều học giả, nhà khoa học, nghệ sĩ xuất thân từ dòng họ Đàm Việt Nam. Có thể nói, dòng họ Đàm Việt Nam xưa nhất là dòng họ của nữ tướng Đàm Ngọc Nga còn dòng họ Đàm Việt Nam lớn nhất là dòng họ Đàm Công… ở làng Kim Bảng, xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn (nay là thị xã Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh và dòng họ Đàm Thận… ở làng Me, xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Họ Đàm đã đi vào lịch sử Phật giáo khi hầu hết các sư nữ đều lấy tên họ Đàm. Họ Thích và họ Đàm là họ của dòng Phật giáo. Tính nhân từ và sự khoan dung của người họ Đàm đã thể hiện điều đó. Những liệt sĩ họ Đàm Việt Nam qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, nhất là kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là niềm tự hào chân chính nhất của tất cả những người họ Đàm Việt Nam. Trong sách Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Việt Nam, tôi đã tổng kết và rút ra được một số vấn đề về họ Đàm Việt Nam. Việc tổng kết này là rất quan trọng, vì thông qua tổng kết mà rút ra được một số kinh nghiệm quý, tốt thì phát huy, không tốt thì khắc phục, cũng là để cho các thế hệ họ Đàm Việt Nam học tập. Phạm vi của cuốn sách này, tôi cũng mới chỉ nêu được phần chính về những nhân vật tiêu biểu của họ Đàm Việt Nam trong lịch sử đã được ghi vào sử sách, gắn với lịch sử dân tộc. Phần Phụ lục của cuốn sách, tôi đã liệt kê danh sách các chi của họ Đàm Việt Nam, tuy sự liệt kê này chưa đầy đủ. Còn những phần như danh sách các liệt sĩ, từ đường, miếu mạo, di tích, gia phả, câu đối, bút tích, tài liệu, thư tịch... về họ Đàm Việt Nam, tôi không có điều kiện đưa hết vào cuốn sách này được, vì tư liệu còn thiếu; hơn nữa, nhiều tài liệu về vấn đề này lại chưa chính xác. Sau này, nếu sưu tầm được đầy đủ tài liệu, tôi sẽ viết tiếp.8 Phó giáo sư - Tiến sĩ Sử học - Cử nhân Ngữ văn Đàm Đức Vượng Nguồn tài liệu để đưa vào cuốn sách này đều là những tư liệu chính thống, có sự đối chiếu, xác minh cẩn thận. Tài liệu nào còn phải tiếp tục xác minh, tôi đều ghi rõ ở phần chú thích. Tất cả các câu trích đều ghi rõ nguồn. Những từ cổ Hán, Nôm mà nay không còn thông dụng, đều được giải nghĩa ở phần chú thích cuối trang. Tuy nhiên, cũng có một số sự kiện lịch sử, nhất là về nhân danh, địa danh, ngày, tháng, năm chỉ là tương đối, bởi lẽ, các sách sử chép rất khác nhau và cũng không đưa ra một kết luận nào cho chính xác. Ngay như bộ sử xưa nhất mà chúng ta đang có trong tay là sách “Việt Sử lược” (còn trước cả “Đại Việt Sử ký toàn thư”) cũng có một số chỗ chép nhầm. Thí dụ, như Lý Thường Kiệt đánh quân Tống vào năm 1074, trong khi các thư tịch Nhà Tống và sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” đều chép vào năm 1075, chép sớm mất một năm. Có sách sử chép về năm lại muộn mất một năm... Vì vậy, một vấn đề đặt ra cho tôi là phải đối chiếu cẩn thận và cố xác minh sự kiện lịch sử cho chính xác hoặc gần chính xác. Cuốn “Kỷ yếu Hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy”, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, là một trong số những tài liệu tham khảo để tôi biên soạn cuốn sách này. Dù sao, vẫn còn một số nhân vật tiêu biểu của họ Đàm trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, mà tôi chưa khai thác hết hoặc khai thác chưa đầy đủ. Sau này, nếu có điều kiện sẽ bổ sung khi tái bản. Trong quá trình biên soạn cuốn sách này, tôi gặp một số khó khăn, nhất là về tư liệu học và xác minh tư liệu học. Tôi đã tới nhiều kho lưu trữ, thư viện ở trong nước và ngoài nước để sưu tầm và xác minh tài liệu về họ Đàm Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn chưa thể đầy đủ được, nhất là ở thời kỳ đầu xuất hiện dòng họ Đàm Việt Nam. Hy vọng sau này, khi được tái bản, sẽ có thêm nhiều tài liệu mới bổ sung, làm cho cuốn sách ngày thêm phong phú. Việt Nam rõ nhất sách sử bắt đầu xuất hiện từ Triều Trần, cách đây 792 năm (1225-2017). Triều Lý có rất nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử, lại bắt đầu xuất hiện những nhà trí thức lớn, nhưng các nhà trí thức Triều Lý lại không để lại cho chúng ta bộ sách sử nào. Thật đáng tiếc! Vì vậy, phải đến Triều Trần thì sách sử Việt Nam mới bắt đầu xuất hiện. Quyển sử đầu tiên của nước ta có thể là sách “Đại Việt Sử ký” do Lê Văn Hưu biên soạn, đời Trần Thánh Tông, năm 1272 (Nhâm Thân). Từ đấy trở đi, lần lượt có nhiều sách sử ra đời. Trong số các bộ sách sử mà tôi đang có trong tay, tôi thấy bộ “Đại Việt Sử ký toàn thư” là chép chi tiết hơn cả. “Đại Việt Sử ký toàn thư” là bộ thông sử có giá trị nhất để nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Những cuốn thông sử viết sau, phần lớn là cũng rút ra từ bộ sách này. Tôi chỉ có một Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Việt Nam 9 điều băn khoăn là việc đánh giá một số nhân vật lịch sử trong sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” còn mang tính hiện tượng mà không theo bản chất thật của họ, cho nên nó chưa được chuẩn mực lắm. “Đại Việt Sử ký toàn thư” biên chép lịch sử dân tộc từ buổi đầu dựng nước cho đến năm Giáp Dần (1674) hoặc năm Ất Mão (1675). Theo giới thiệu của Viện Sử học, thì bộ, “Đại Việt Sử ký toàn thư” do Ngô Sĩ Liên dựa vào bộ “Đại Việt Sử ký” của Lê Văn Hưu viết xong năm Nhâm Thân (1272) và bộ “Sử ký tục biên” của Phan Phu Tiên mà viết ra vào hồi nửa cuối thế kỷ XV. Đến năm Ất Tỵ (1665), đời Vua Lê Huyền Tông (năm Cảnh Trị thứ ba), Tây vương Trịnh Tạc sai Phạm Công Trứ khảo định bộ “Sử ký toàn thư” và viết thêm phần “Bản kỷ tục biên”. Song, mới in được năm, sáu phần. Đến năm Đinh Sửu (1697) đời Vua Lê Hy Tông, Định vương Trịnh Căn sai Lê Hy và Nguyễn Quý Đức sửa chữa và viết nốt phần “Bản kỷ tục biên” từ năm 1663 đến năm 1675. Như vậy, “Đại Việt Sử ký toàn thư” không chỉ là bộ sách do Ngô Sĩ Liên soạn mà là do nhiều người viết ở các thời kỳ khác nhau, bổ sung thêm. Dù sao, Ngô Sĩ Liên vẫn là người viết đầu tiên, viết chính. Về mặt văn bản học, chúng ta có bản in năm Chính Hòa thứ 18 tức năm Đinh Sửu (1697), lưu giữ tại Thư viện của Hội Á Châu, Paris, Pháp, do Giáo sư Phan Huy Lê sao chụp lại. Đây là bản in năm Đinh Sửu (1697), có giá trị đặc biệt của văn bản gốc, của nguyên bản bộ “Đại Việt Sử ký toàn thư”. Bản dịch “Đại Việt Sử ký toàn thư”, theo bản in năm Chính Hòa thứ 18, do Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn viết Lời giới thiệu; Giáo sư Phan Huy Lê khảo cứu về tác giả, văn bản, tác phẩm; dịch và chú thích: Ngô Đức Thọ; hiệu đính: Giáo sư Hà Văn Tấn; Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành vào năm 1983. Sách “Việt Sử lược”, viết vào Triều Trần, thế kỷ XIV, chưa rõ tên tác giả. Hiện trong tay chúng ta có bản chữ Hán và bản dịch chữ Quốc ngữ. Bản dịch chữ Quốc ngữ do Giáo sư Trần Quốc Vượng dịch1 . Sách “Sử ký tục biên” của Phan Phu Tiên viết vào hồi nửa cuối thế kỷ XV. Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, do Quốc sử quán Triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng năm 1856-1884. Sách “Đại Nam Nhất thống chí” của Quốc Sử quán Triều Nguyễn”. Sách “Lịch triều Hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú. Sách “Việt Nam Sử lược” của Trần Trọng Kim. Sách “Lịch sử Việt Nam - Từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX” của Đào Duy Anh. Sách “Quốc triều Hương khoa lục” của Cao Xuân Dục… Đó là nhưng bộ sử lớn, một kho tư liệu lịch sử quý báu mà tôi đã dẫn trích trong cuốn sách “Lịch sử Việt Nam gắn liền với Lịch sử dòng 1 Qua nghiên cứu và đối chiếu, tôi (ĐĐV) cho rằng, có thể sách “Việt Sử lược” là sách tóm tắt của sách “Đại Việt Sử ký” của Lê Văn Hưu.10 Phó giáo sư - Tiến sĩ Sử học - Cử nhân Ngữ văn Đàm Đức Vượng họ Việt Nam”. Sách “Lịch sử Việt Nam” (tập 1) của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971) cũng là một nguồn tài liệu tham khảo. “Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia” trên mạng internet đăng thông tin về những nhân vật lịch sử, thường xuyên được sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung và dẫn nguồn đã giúp cho việc nghiên cứu của tôi được thuận lợi để viết cuốn sách này. Tuy nhiên, khi sử dụng “Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia”, tôi vẫn phải đối chiếu với nhiều nguồn tài liệu khác, vì “Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia” vẫn còn phải tiếp tục sửa. Tôi rất có cảm tình với cuốn sách “Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý” của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, vì ông đã viết: Từ đời Tần, mỗi lúc có một họ thống nhất Trung Hoa, họ ấy liền nghĩ đến việc chiếm các nước nhỏ chung quanh. Tần có Nhâm Ngao, Triệu Đà; Hán có Lộ Bác Đức, đều đã đạt mục đích là diệt họ đang cầm quyền ở đất Việt. Trong khoảng thời gian nước ta được độc lập hoàn toàn, những cuộc xâm lăng bắt đầu từ đời Tống. Dưới Triều Tống Thái Tông, tướng Tống tưởng lấy nước ta dễ, đã khinh cử, nên thất bại hoàn toàn bởi tay Lê Hoàn. Lần thứ hai, dưới Triều Tống Thần Tông, thế Vua Tống và Tể tướng Vương An Thạch rất lớn, cho nên sự xuất quân được dự bị một cách cẩn thận và đầy đủ: Quân hơn 10 vạn, sửa soạn một năm, tướng tá tinh nhuệ, kế hoạch định rõ từng chi tiết. Đáng lẽ nước ta lúc ấy bị đổi thành châu, quận của Tống. May! Đương thời, có một vĩ nhân cầm quyền, có đủ óc chính trị, biết kết thúc nhân tâm, có cao tài lợi dụng thời cơ, có kinh nghiệm điều binh, khiển tướng. Bậc ấy là Lý Thường Kiệt”1 . Nguyên tắc sử dụng các sách sử của các sử gia đã viết trước đây là có sự đối chiếu, so sánh giữa văn bản chữ Hán hoặc chữ Nôm với các bản dịch ra chữ Quốc ngữ, trong đó, vẫn lấy bản dịch ra chữ Quốc ngữ là chính, vì tôi quan niệm rằng, những bản dịch ra chữ Quốc ngữ đều qua thẩm định của các nhà sử học trước khi xuất bản. Các cuốn sách sử của sử gia người nước ngoài viết, trong đó “Nguyên sử”, “Tống sử”... và các sách sử khác của Trung Quốc, cũng là những tài liệu tham khảo để thấy được họ viết gì, rồi đem đối chiếu, sẽ thấy được cái đúng, cái sai viết về các nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử, qua đó mà có sự lựa chọn đúng, hợp lý để viết vào cuốn sách. So sánh thường là phương pháp tốt trong khi viết sử. Để có cơ sở thực tế, viết cho chắc tay, ngoài việc nghiên cứu nghiêm túc các sách sử, sách lý luận, các tài liệu thành văn, tôi còn đi tới nhiều địa 1 Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo Triều Lý, Nxb Hà Nội, 1996, tr. 5.Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Việt Nam 11 phương, những nơi có di tích lịch sử để khảo sát như đền thờ Kinh Dương Vương ở Bắc Ninh; đền thờ các Vua Hùng ở Phú Thọ; đền Gióng ở Sóc Sơn, Hà Nội; đền thờ Tản Viên ở Ba Vì, Hà Nội; đền thờ Hai Bà Trưng ở Hà Nội; đền thờ Ngô Quyền, Phùng Hưng ở Sơn Tây (nay là Hà Nội); đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình; đền thờ Lý Bát Đế ở Bắc Ninh; đền thờ các Vua Trần ở Nam Định; thành Nhà Hồ ở Thanh Hóa; đền thờ Vua Lê Lợi ở Nghệ An; đền thờ các Vua Tây Sơn ở Bình Định; các lăng tẩm Triều Nguyễn ở Huế; quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghệ An và nhiều địa danh khác. Hàng chục năm tôi 2vào Nam ra Bắc, đi sưu tầm tài liệu ở nước ngoài, khảo sát thực tế, đối chiếu, xác minh tài liệu để viết cuốn sách này. Đi bất cứ đâu, tôi cũng ghi chép rất tỉ mỉ vào những cuốn sổ tay để tiện đối chiếu, tra cứu. Tôi đã từng nhiều lần đến sông Bạch Đằng, nghĩ đến tổ tiên ta đánh quân xâm lược phương Bắc; vào thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội để nghiên cứu về trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nghiên cứu về văn hóa Việt Nam... Có lần đi khảo sát thực tế, tôi bị tai nạn giao thông, phải nằm điều trị tại bệnh viện mất cả tháng trời. Thật là gian khổ! Nhưng tôi nghĩ đây là việc làm lớn, rất có ý nghĩa, nên tôi đã cố gắng! Tôi nghĩ rằng, lịch sử bao giờ cũng nghiêm túc và chính xác. Về cách xưng hô nhân vật cũng cần có sự lựa chọn, như dùng thuật ngữ “ông”, “bà”... để viết cho phù hợp. Ngôn ngữ không có tính giai cấp, mà chỉ là tiếng nói của một dân tộc, nó mang tính chất công bằng trong sử sách. Về âm điệu cũng cần được cân nhắc cẩn thận và viết rõ, như âm Hán không có vần “r”, nên có một số trường hợp như địa danh “Bà Rịa”, phải viết thành “Bà Địa”, mà không được chú thích, làm người đọc không rõ địa danh “Bà Địa” ở đâu?... Có những ngôn từ tuy chữ viết khác nhau, nhưng đều chung một nghĩa và có giá trị như nhau, nên trong quá trình viết, có thể dùng chữ này, hoặc chữ khác, như có thể viết “Triều Lý”, “Nhà Lý”, “Đời Lý”, “Thời Lý”, “Họ Lý”; “Triều Tống”, “Nhà Tống”, “Đời Tống”, “Thời Tống”, “Họ Tống”... tùy theo hoàn cảnh của từng triều đại mà viết cho phù hợp. Một số từ ngữ như “chép”, “ghi”, “viết” có giá trị ngôn ngữ như nhau. Sách “Việt Sử lược” và sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” thường dùng từ “chép”, nhưng các sách sử sau đó, thường dùng từ “ghi”, “viết”, tùy theo mỗi thời mà dùng từ cho phù hợp. Vấn đề xác định ngày dương lịch và ngày âm lịch cũng gặp khó khăn. Có sách viết ngày âm lịch, có sách viết ngày dương lịch. Nhiều khi lẫn lộn giữa ngày dương lịch với ngày âm lịch. “Đại Việt Sử ký toàn thư”, nhiều chỗ chỉ viết ngày, không rõ là âm lịch hay dương lịch, và cũng không rõ ngày, tháng, năm, phải mất nhiều công đối chiếu, tra cứu. Trong sách này, nếu viết ngày âm lịch, tôi thường đưa năm âm lịch lên trên, rồi 12 Phó giáo sư - Tiến sĩ Sử học - Cử nhân Ngữ văn Đàm Đức Vượng mới đến năm dương lịch, và khi viết ngày dương lịch, tôi đưa năm dương lịch lên trên, rồi mới đến năm âm lịch. Thí dụ: Ngày 24 tháng 11 năm Đinh Hợi - 1287 (được xem là ngày âm lịch). Ngày 25 tháng 12 năm 1287 - Đinh Hợi (được xem là ngày dương lịch)... Vấn đề “chính sử” và “không chính sử” cũng cần được có quan niệm cho đúng. Nhiều sách sử của một cá nhân viết rất chính sử, vậy có được xem là chính sử hay không? Hay là chỉ có những sách sử của một số cơ quan công quyền viết theo đơn đặt hàng, gọi là đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ, mới được xem là chính sử? Lịch sử sử học cho thấy có một số sách sử do cá nhân viết lại tồn tại lâu dài. Đây là sự thật. Tất nhiên, chẳng ai dám phủ nhận những cuốn sách sử do một tập thể tác giả viết, nếu những cuốn sách đó viết đúng với lịch sử. Vì vậy, có nên quan niệm đề cao sách sử do tập thể viết, mà hạ thấp vai trò của sách sử do cá nhân viết không? Theo tôi, cái cốt lõi vẫn là ở chất lượng và sự trung thực của những cuốn sách sử đó. Lịch sử là một khoa học, rất công bằng và quang minh chính đại. Người viết sử là một nhà khoa học, mà một khi đã nói đến khoa học thì nó phải được đối xử như một khoa học. Lịch sử, xét về mặt triết học, là nguyên tắc nhận thức các sự vật và hiện tượng trong sự phát triển, hình thành của chúng, trong mối liên hệ của chúng với những điều kiện lịch sử cụ thể quy định. Quan điểm lịch sử là cách xem xét hiện tượng như là sản phẩm của sự phát triển lịch sử nhất định. Là một phương pháp nghiên cứu lý luận nhất định, quan điểm lịch sử là sự xác nhận không phải bất kỳ sự biến đổi nào, thậm chí cả biến đổi về chất, mà là xác định sự biến đổi trong đó thể hiện sự hình thành những nét đặc trưng và những mối liên hệ đặc thù của các sự vật và hiện tượng quy định bản chất mang tính khách quan thông qua ngòi bút chủ quan của người viết sử. Quan điểm lịch sử đòi hỏi phải thừa nhận tính chất kế thừa và không thể đảo ngược của những biến đổi của sự vật. Quan điểm lịch sử đã trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của khoa học, cho phép khoa học vẽ nên bức tranh về quá khứ, hiện tại và sự đoán định sự phát triển của tương lai. Muốn làm được điều đó, người viết sử phải có sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa lịch sử với logic, trong đó, lịch sử làm nền, để chứng minh, còn logic để đánh giá, phân tích, bình luận. Một cuốn sách sử viết tốt sẽ có sức lôi cuốn mạnh người đọc qua các thế hệ sẽ tồn tại lâu dài và ngược lại. Tóm lại, tổ tiên, ông cha ta đã để lại cho chúng ta những bộ sách sử quý để rồi chúng ta viết tiếp những trang sử thời cận, hiện đại và cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, tài liệu về lịch sử Việt Nam vẫn còn nhiều lỗ hổng, chưa điền vào được, đúng như lời quan Tham tụng Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Việt Nam 13 Bùi Huy Bích: “Nước ta về môn sử ký rất là sơ lược”1 . Vì vậy, những người viết sử sau này, cần phải cố gắng nhiều hơn để điền vào những chỗ trống mà các thế hệ viết sử lớp trước chưa điền vào được. Bên cạnh những trang sử viết về lịch sử dân tộc là những trang sử viết về dòng họ Đàm Việt Nam. Với ý thức về dòng họ, bản thân tôi đã dành toàn bộ trí tuệ, sức lực, thời gian để viết cuốn sách này; vừa nghĩ vừa đánh máy trực tiếp, sai đâu sửa ngay trên máy, thực hiện viết trang nào xong trang ấy. Nhiều đêm, tôi phải thức đến 2-3 giờ sáng để đánh máy bản thảo. Sự cố gắng vượt bậc này đã mang lại cho tôi một bản thảo chất lượng. Đây có lẽ là niềm an ủi duy nhất đối với tôi khi viết cuốn sách này. Về phương pháp biên soạn, cuốn sách này là sự gắn kết giữa lịch sử Việt Nam với lịch sử dòng họ Đàm Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, tôi đã kết hợp trình bày về lịch sử dân tộc Việt Nam và với các dòng họ khác ở Việt Nam nếu dòng họ đó có liên quan đến dòng họ Đàm Việt Nam. Đây là cách tiếp cận hợp lý nhất, lối viết tiên tiến nhất, bởi vì, nếu chỉ trình bày riêng về lịch sử họ Đàm Việt Nam mà không trình bày lịch sử dân tộc Việt Nam, thì sẽ rơi vào tình trạng lịch sử “chay” riêng về một dòng họ, làm kém đi sự phong phú, đa dạng của cuốn sách. Phương pháp chỉ đúng khi nó được gắn bó với logic và với lịch sử. Nó là cách thức để đạt tới mục tiêu, là vấn đề, sự kiện được sắp xếp và trình bày một cách có hệ thống và theo một trật tự nghiêm ngặt. Phương pháp chỉ đúng khi nó được chọn lọc những nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình để đưa vào sách. Nếu đưa những nhân vật tạp nham, không điển hình, không chọn lọc kỹ, vào sách, vô hình trung, sẽ làm hạ thấp chất lượng tác phẩm. Tôi đã vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để viết cuốn sách này. Chủ nghĩa duy vật biện chứng chính là nghiên cứu và sự biến đổi về hoạt động của dòng họ Đàm Việt Nam trong lịch sử; về quy luật hoạt động của họ Đàm Việt Nam nằm trong quy luật hoạt động của dân tộc Việt Nam; trình bày một cách khách quan về dòng họ Đàm Việt Nam trong lịch sử; khám phá những điều chưa biết về hoạt động của họ Đàm Việt Nam trong lịch sử. Chủ nghĩa duy vật lịch sử được thể hiện ở sự trung thực, chính xác của lịch sử họ Đàm Việt Nam, đến những người lao động của họ Đàm Việt Nam, đến những điều kiện sinh hoạt vật chất và phương thức sản xuất của họ, đến vấn đề tiếp cận tôn giáo và đạo đức của người họ Đàm Việt Nam. Lịch sử dân tộc chi phối lịch sử của một dòng họ. Lịch sử của một dòng họ góp phần làm phong phú lịch sử dân tộc. Lịch sử các dòng họ cấu thành lịch sử dân tộc. Vì vậy, khi viết về lịch sử của một dòng họ, không 1 Xem “Nam Phong” tạp chí, 1919, tr. 52.14 Phó giáo sư - Tiến sĩ Sử học - Cử nhân Ngữ văn Đàm Đức Vượng thể không viết về lịch sử dân tộc. Điều tối kỵ của nhà viết sử là bóc tách lịch sử của một dòng họ ra khỏi lịch sử dân tộc. Dân tộc là một cộng đồng người ổn định, sống trên một khu vực đất, nước, hình thành trong lịch sử, xuất hiện trên cơ sở cùng chung tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt, kinh tế, phong tục tập quán và cấu tạo về tâm lý, thể hiện trong nền văn hóa dân tộc chung. Tất cả những đặc điểm trên của dân tộc đều có mối liên hệ lẫn nhau và chỉ có bao gồm tất cả những đặc điểm ấy thì cộng đồng đó mới có thể gọi là dân tộc. Dân tộc khác với chủng tộc ở chỗ chủng tộc có những đặc trưng nhất định về sinh vật học biểu hiện ra bên ngoài như màu da, tóc... Dân tộc cũng khác với bộ lạc ở chỗ bộ lạc là một phạm trù nhân chủng học, nó chỉ có trong xã hội nguyên thủy. Dân tộc là một phạm trù xã hội, một hiện tượng lịch sử, chứ không phải phạm trù sinh vật học và tồn tại lâu dài. Dòng tộc là một dòng họ bao gồm những người cùng chung một tổ tiên, mang tính dòng giống. Dòng tộc nằm trong dân tộc, là một bộ phận của dân tộc, chịu sự chi phối của dân tộc, chịu ảnh hưởng của lịch sử và văn hóa dân tộc, nói trong tiếng nói đa ngôn ngữ của dân tộc và đôi khi mang sắc thái sinh hoạt riêng. Vì vậy, dòng tộc gắn liền với dân tộc. Bóc tách dân tộc ra khỏi dòng tộc là sai lầm về nhận thức luận cũng như về phương pháp nghiên cứu. Xin hãy trân trọng lịch sử dân tộc và lịch sử của dòng họ. Nhà thông thái Abutalíp nói: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”1 . Mơ ước của tôi là muốn gói gọn lịch sử Việt Nam và lịch sử họ Đàm Việt Nam vào cuốn sách này. Dù sao, cuốn sách này do một người viết từ đầu đến cuối, chẳng ai dám nói là đã hoàn hảo. Vì vậy, có chỗ nào còn chưa thỏa đáng, mong được bạn đọc lượng thứ và trao đổi để mỗi lần tái bản, cuốn sách sẽ hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, nhà sử học đã cộng tác và cung cấp tài liệu quý để tôi viết cuốn sách này cho thêm phần chắc tay; chân thành cảm ơn tất cả bà con cô bác dòng họ Đàm Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc về cuốn sách của tôi: Lịch sử Việt Nam gắn liền với Lịch sử dòng họ Việt Nam. Bắt đầu viết tại Hà Nội, Việt Nam, ngày 1 tháng 1 năm 2014 Hoàn thành bản thảo tại Hà Nội,Việt Nam, ngày 31 tháng 3 năm 2018 Phó Giáo sư - Tiến sĩ Sử học - Cử nhân Ngữ văn Đàm Đức Vượng (Đức Vượng) 1 Raxun Gamzatốp: Đaghextan của tôi, Nxb Cầu Vồng, Mátxcơva, 1984, tr. 9.CHƯƠNG I KHỞI ĐẦU TỪ TRIỀU KINH DƯƠNG VƯƠNG LẠC LONG QUÂN - HÙNG VƯƠNG THUỞ BÌNH MINH CỦA ĐẤT NƯỚC Có người hỏi tôi rằng, loài người có từ bao giờ? Xuất hiện đầu tiên ở đâu? Cội nguồn người Việt Nam xuất hiện từ bao giờ? Theo đó, người họ Đàm Việt Nam có từ bao giờ? Từ đâu đến? Câu trả lời của tôi là trước hết phải xác định cho được về con người và sự sống, từ đó, mới có thể lần ra những vấn đề cụ thể. Tôi nhận thức rằng, ở đâu có 5 nguyên tố (Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ) + không khí và Âm - Dương là ở đấy tự nảy sinh sinh vật, sự sống, trong đó có sinh vật người hoặc vượn người, mà theo Sáclơ Rôbớt Đácuyn (1809-1882), nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên Anh, “cha đẻ” thuyết tiến hóa, đã tổng kết về sự phát triển tiến hóa của giới hữu sinh là bằng chọn lọc tự nhiên. Trong tác phẩm “Nguồn gốc con người và sự đào thải sinh dục” (viết năm 1871), S.R.Đácuyn đã giải thích bằng khoa học tự nhiên về nguồn gốc của con người là từ những tổ tiên động vật mà ra. Song, những nguyên nhân xã hội quyết định việc tách con người ra khỏi giới động vật - vai trò của lao động, của khối óc và đôi bàn tay, của ý thức xã hội - thì Đácuyn không phát hiện được. Sau này, các nhà khoa học đã chứng minh nhờ có lao động, thông qua lao động mà đã chuyển hóa từ vượn người thành người. Dù sao, những tác phẩm của ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môn sinh vật học, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, chống thần học và siêu hình học, góp phần cải tạo tự nhiên theo hướng duy vật biện chứng. Sự sống, theo sự giải thích của các nhà khoa học Liên Xô1 trước đây, chẳng qua là hình thức vận động của vật chất. Hình thức vận động này cao hơn so với hình thức vận động vật lý học và hóa học và có một loạt những điểm đặc thù. Những nét cơ bản của sự sống đã được trình bày trong định nghĩa của Phriđrích Ăngghen (1820-1895), người đã cùng với Các Mác sáng lập ra học thuyết mácxít, thì “sự sống là phương thức tồn tại của những “chất anbumin” (“chất nguyên sinh”) mà yếu tố cơ bản của phương thức đó là việc thường xuyên trao đổi chất với giới tự nhiên bên ngoài bao quanh chúng”. Đúng vậy, ngày nay, “chất anbumin” được hiểu 1 Xem “Từ điển triết học”, do Viện sĩ Liên Xô M.M.Rôdentan (Chủ biên), tiếng Nga, bản dịch ra tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1986, tr. 513. 16 Phó giáo sư - Tiến sĩ Sử học - Cử nhân Ngữ văn Đàm Đức Vượng là hệ thống những chất đặc trưng cho sự sống: anbumin, axít nuclêíc, hiđrôcacbon... Sự sống tồn tại dưới hình thức của những cơ thể sống riêng biệt. Mỗi cơ thể sống nảy sinh từ cái tương tự với bản thân nó, trải qua chu kỳ phát triển cá thể, sản sinh ra cái tương tự với bản thân nó và tiêu vong. Cơ thể, khi liên hệ với môi trường vô sinh và liên hệ với nhau, thì tạo nên những hệ thống phức tạp hơn. Rút cuộc, một hệ thống thống nhất của sự sống trên trái đất, đã trải qua con đường phát triển từ những hình thức đơn giản nhất đến con người. Đặc điểm cơ bản của những vật thể sống là sự trao đổi chất, là sự phá hủy và sự tái tạo những cấu trúc hữu cơ, là sự dị hóa và đồng hóa. Sự giải thích đúng đắn trên phương diện triết học về những quy luật của sự sống đóng vai trò phương pháp luận quan trọng trong việc nghiên cứu những quy luật của sự sống, trong đó có những quy luật chưa được khoa học phát hiện. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì sự sống, ngoài những quy luật vật lý học và hóa học, còn có những quy luật sinh vật học riêng của nó. Việc nghiên cứu sự sống còn bao hàm một loạt vấn đề lý luận chung, có tính chất triết học. Đó là sự tiến hóa và sự phát triển của con người. So với vũ trụ, thì sự phát triển của con người chỉ là “nháy mắt, một tích tắc”. Cách đây khoảng từ 2 đến 3 triệu năm, con người đã có những dấu hiệu tách ra từ loài vật theo quy luật tiến hóa tự nhiên. Xã hội nguyên thủy ra đời cách đây khoảng vài vạn năm. Cách đây trên dưới 5 nghìn năm, bắt đầu xuất hiện đầu tiên một xã hội giai cấp. Dần dần hình thành “bản thân con người” cũng với “bản thân xã hội”, như C.Mác đã từng phân tích và gọi đó là “con người xã hội”. Dòng họ Đàm Việt Nam cũng nằm trong sự phát triển của cái chung đó. Bây giờ nói về nước ta: Nước Việt Nam ở về Đông Nam châu Á (Khu vực ASEAN), có hình chữ S. Phía Đông và phía Nam giáp biển Đông (Thái Bình Dương); phía Bắc giáp Trung Quốc; phía Tây giáp Lào và Campuchia; có diện tích 330.967,3 km2 đất liền1 . Thềm lục địa của Việt Nam bao gồm hàng nghìn hòn đảo, trong đó có hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Dân số cuối thời Trần có khoảng 5 triệu người. Đến năm 2014 là 90.728,9 nghìn người2 . Trên lãnh thổ Việt Nam có nhiều tộc người sinh sống. Từ các tộc người, nảy sinh các dòng họ. Trong số các dòng họ ở Việt Nam có họ Đàm. Sự hình thành ba miền Bắc - Trung - Nam là đặc điểm nổi bật của địa thế nước ta, bao gồm Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ. Cả nước có 54 dân 1 Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê, 2014, Nxb Thống kê, Hà Nội, bản Tóm tắt, tr. 17. 2 Niên giám Thống kê, 2014, sđd, tr. 17.Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Việt Nam 17 tộc anh em. Người Kinh thường ở đồng bằng. Người các dân tộc thiểu số thường ở miền núi. Tuy nhiên, ngày nay, có nhiều người miền núi di chuyển sinh sống ở đồng bằng và ngược lại. Xưa nhất là người Hòa Bình và người Bắc Sơn. “Theo di chỉ và dụng cụ của họ, người ta thấy rằng, người Hòa Bình và người Bắc Sơn đã biết dùng lửa”1 . HỌ HỒNG BÀNG - KINH DƯƠNG VƯƠNG - LẠC LONG QUÂN - HÙNG VƯƠNG Theo “Lĩnh Nam chích quái”2 đã được “Đại Việt Sử ký toàn thư” chép lại và bổ sung, thì nước Việt Nam ta xa xưa xuất hiện với kỷ nguyên Hồng Bàng Thị với ông Vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, tên húy là Lộc Tục3 . Kinh Dương Vương là hậu duệ của Viêm đế Thần Nông. Kinh Dương Vương xuất hiện với tư cách là một ông Vua đầu tiên của nước Bách Việt. Vua lấy con gái Động Đình Quân (Thần Long), sinh ra Lạc Long Quân (Sùng Lãm). Lạc Long Quân là con trai Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ. Âu Cơ là con gái Đế Lai. Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh được một trăm người con trai (tục truyền rằng, đẻ ra 100 quả trứng). Đó là tổ tiên của nước Bách Việt. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng, ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khác nhau, cho nên khó lòng đoàn tụ. Rồi họ từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ lên ở núi, 50 con theo cha xuống ở biển. Họ phong con trưởng là Hùng Vương nối ngôi, truyền được 18 đời4, đóng đô ở Châu Phong (nay là huyện Bạch Hạc), đặt quốc hiệu là nước Văn Lang. Theo sách “Lĩnh Nam chích quái” của Trần Thế Pháp thì nước Văn Lang lúc ấy gồm 15 bộ, bao gồm: (1) Việt Thường (nay là dải đất từ Hải Lăng thuộc Quảng Trị đến huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam). (2) Giao Chỉ (nay là miền trung du và trung châu Bắc Bộ). (3) Chu Diên (còn gọi là Châu Diên - một phần tỉnh Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội). (4) Vũ Ninh (nay là Bắc Ninh, Bắc Giang). (5) Phúc Lộc (một bộ phận của tỉnh Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội). (6) Ninh Hải (thuộc Quảng Yên). (7) Dương Tuyển (nay là tỉnh Hải Dương). (8) Lục Hải (nay là tỉnh Lạng 1 Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam - Từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr. 24. 2 “Lĩnh Nam chích quái” của Trần Thế Pháp, là tập sách ghi chép những truyền thuyết và truyện cổ tích của nước ta. Tác phẩm viết bằng chữ Hán, xuất hiện rất sớm, từ Triều Trần. Cuốn sách này đã được dịch sang chữ Quốc ngữ, trong đó có bản dịch của Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc Sơn; Vũ Quỳnh, Kiều Phú nhuận chính; Nxb Trẻ - Nxb Hồng Bàng xuất bản, 2013. 3 Hiện nay vẫn còn đền thờ ở Bắc Ninh 4 Tên 18 vị Vua Hùng, mỗi sách chép khác nhau.18 Phó giáo sư - Tiến sĩ Sử học - Cử nhân Ngữ văn Đàm Đức Vượng Sơn). (9) Hoài Hoan (nay là tỉnh Nghệ An). (10) Cửu Chân (nay là tỉnh Thanh Hóa). (11) Nhật Nam (thuộc Thuận Hóa). (12) Chân Định1. (13) Văn Lang (tên một bộ, nhưng đồng thời cũng là tên nước). (14) Quế Lâm (nay là địa phương Quế Lâm, Thương Ngô, Liễu Giang thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). (15) Tượng Quận2. Còn theo sách “Việt Nam Sử lược” của Trần Trọng Kim (bản in của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2015, tr. 36), viết rằng, theo sử cũ thì nước Văn Lang xưa chia làm 15 bộ: (1) Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên). (2) Châu Diên (Sơn Tây). (3) Phúc Lộc (Sơn Tây). (4) Tân Hưng (Hưng Hóa, Tuyên Quang). (5) Vũ Định (Thái Nguyên, Cao Bằng). (6) Vũ Ninh (Bắc Ninh). (7) Lục Hải (Lạng Sơn). (8) Ninh Hải (Quảng Yên). (9) Dương Tuyền (Hải Dương). (10) Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình). (11) Cửu Chân (Thanh Hóa). (12) Hoài Nam (Nghệ An). (13) Cửu Đức (Hà Tĩnh). (14) Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị). (15) Bình Văn? Theo sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” thì nước Văn Lang lúc ấy còn có các bộ: “Vũ Định, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức”3. Nước Văn Lang ở thời Hùng Vương là nhà nước của người Lạc Việt. Người Lạc Việt xưa mặc áo bằng vỏ cây, bện cỏ làm chiếu, gác cây làm nhà sàn, làm cơm bằng ống tre, ống nứa, dùng gừng thay muối, dùng bột cây đao thay cơm; khi có người chết, thì mang chày ra giã, không để tưởng nhớ, dần dần tiến tới làm ruộng lúa nước. Đó là hình ảnh sinh hoạt của người nguyên thủy trên đất nước ta xa xưa. Dưới thời Hùng Vương, có các tướng văn, tướng võ. Tướng văn gọi là “lạc hầu”; tướng võ gọi là “lạc tướng” (sau gọi là “hùng tướng”); con trai Vua gọi là “quan lang”; con gái Vua gọi là “mị nương”; nữ lệ gọi là 1 Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” không thấy ghi tên “Chân Định”, chỉ có tên “Vũ Định” (gồm các địa phương Thái Nguyên, Cao Bằng... ngày nay). 2 Tượng Quận: Theo sách “Lĩnh ngoại đại đáp” của Chu Khứ Phi, Nhà Tống, được “Lĩnh Nam chích quái” dẫn lại, thì “Tượng Quận, Quế Lâm là các quận của đất Bách Việt trước đó. Khi Tần Thủy Hoàng bình định thiên hạ, mở núi, dọn đường cướp đất Việt, Dương, đặt ra các quận Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải (Quảng Đông)”. Lúc ấy, tỉnh Quảng Tây là Quế Lâm, tỉnh Quảng Đông là Nam Hải, đất Giao Chỉ là Tượng Quận. Đến khi Hán Vũ Đế lấy được Nam Hải mới tách Quế Lâm thành Uất Lâm và Thương Ngô, tách Tượng Quận làm ba là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. 3 “Đại Việt Sử ký toàn thư”, tập 1, Nxb Thời đại, Hà Nội, 2010, tr. 67. Gọi là 15 bộ, nhưng danh sách chỉ ghi có 14 bộ. Trong “Việt sử lược” cũng ghi có 14 bộ, nhưng tên bộ có hơi khác so với “Đại Việt Sử ký toàn thư”: “Giao Chỉ, Việt Thường Thị, Vũ Minh, Gia Ninh, Ninh Hải, Lục Hải, Thang Tuyền, Tân Xương, Bình Văn, Văn Lang, Cửu Chân, Nhật Nam, Hoài Hoan, Cửu Đức”.Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Việt Nam 19 “xảo xứng” (còn gọi l&ag

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
7655862
Moonshop.vn
Dạy nghề điện ô tô - TRUNG TÂM ĐÀO TẠO EAC